Thống kê truy cập
  • Đang online: 21
  • Hôm nay: 607
  • Trong tuần: 7 060
  • Tất cả: 1551841
HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THI HÀNH ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Lượt xem: 1375

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014 của Văn phòng Quốc hội;

Căn cứ Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự (gọi tắt là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP);

Căn cứ Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự (gọi tắt là Nghị định số 33/2020/NĐ-CP);

Căn cứ Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tịch thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC).

Tình huống 1. Chị Trần Thị Mai huyện Ý Yên có hỏi: pháp luật quy định chủ thể có thẩm quyền ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá? Việc ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn bao lâu kể từ ngày định giá? Việc bán đấu giá được thực hiện trong thời hạn bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014,

 Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.

Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.

Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.

Tình huống 2. Chị Phan Kim Lan huyện Vụ Bản có hỏi: việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện có đúng không? Chấp hành viên bán đấu giá tài sản trong các trường hợp nào?

 Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.

Theo khoản 3 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, Chấp hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:

- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản;

- Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.

Tình huống 3. Chị Vũ Thị Kim huyện Giao Thủy có hỏi: Người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản khi nào?

Trả lời:

Theo khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.

Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tình huống 4. Anh Đỗ Tuấn Anh huyện Hải Hậu có hỏi: Pháp luật thi hành án dân sự quy định về việc hủy kết quả đấu giá tài sản như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ Điều 102 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được quy định như sau:

- Việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.

- Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.

- Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bịhủy được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống 5. Anh Nguyễn Văn Hợp huyện Nam Trực có hỏi: Pháp luật bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 103 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, việc bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được quy định như sau:

- Người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.

- Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

- Việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thực hiện theo quy định pháp luật.

Tình huống 6. Chi cục thi hành án dân sự huyện V có hỏi: Khi tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục tiếp theo như nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 1 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.

Căn cứ khoản 4 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, đối với tài sản bán đấu giá để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản.

Theo khoản 5 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.

Tình huống 7. Chi cục thi hành án dân sự huyện N có hỏi: Người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án không và nếu có thì khi nào? Chấp hành viên phải làm các thủ tục gì khi Người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án trong trường hợp: Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành.

Khi người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.

Tình huống 8. Chi cục thi hành án dân sự huyện T có hỏi: Trường hợp từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành nhưng người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục tiếp theo như nào?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

Theo khoản 5 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.

Tình huống 9. Anh Trần Văn Hà huyện Hải Hậu có hỏi: Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp những văn bản, giấy tờ nào cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án để người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản?

Trả lời:

Theo khoản 2, khoản 3 Điều 106 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn bản, giấy tờ sau cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.

- Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự;

- Bản sao bản án, quyết định;

- Quyết định thi hành án;

- Quyết định kê biên tài sản, nếu có;

- Văn bản bán đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án;

- Giấy tờ khác có liên quan đến tài sản.

Tình huống 10. Chị Hà Tâm Anh huyện Xuân Trường có hỏi: Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi cấp giấy chứng nhận cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án trong trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc tài sản không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 106 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.

Theo khoản 4 Điều 106 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Chính phủ.

Theo khoản 5 Điều 106 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, đối với tài sản không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản.

Tình huống 11. Chị Phạm Thị Nhạn huyện Vụ Bản có hỏi: Pháp luật quy định quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 110 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014 quy định:

Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

 Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.

Tình huống 12. Anh Bùi Văn Minh huyện Trực Ninh có hỏi: Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác mà tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì việc xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo điểm a khoản 1 Điều 113 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác mà tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì việc xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên được thực hiện như sau:

Đối với tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi hành án thỏa thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thỏa thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp người có tài sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người có tài sản gắn liền với đất.

Tình huống 13. Chị Trần Thị Mai Ngọc huyện Nghĩa Hưng có hỏi: Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác mà tài sản có sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì việc xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo điểm b khoản 1 Điều 113 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác mà tài sản có sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì việc xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên được thực hiện như sau:

Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.

Nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì tài sản phải bị tháo dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ tài sản, trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản.

Tình huống 14. Anh Vũ Tuấn Đạt huyện Hải Hậu có hỏi: Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì Chấp hành viên xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.

Tình huống 15. Chị Hoàng Thị Mai huyện Mỹ Lộc có hỏi: Cơ quan có thẩm quyền xử lý vật chứng, tài sản bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước?

Trả lời:

Theo Điều 124 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, đối với vật chứng, tài sản tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó cho cơ quan tài chính cùng cấp. Đối với tài sản tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành thì chuyển cho cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở.

Theo Điều 32 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, cơ quan tài chính cùng cấp với cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án, cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi có trụ sở với cơ quan thi hành án cấp quân khu hoặc nơi đang lưu giữ vật chứng, tài sản có trách nhiệm tiếp nhận để xử lý vật chứng, tài sản bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 124 Luật Thi hành án dân sự và pháp luật về xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản và quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước.

Tình huống 16. Chị Trần Thị Hòa huyện Xuân Trường có hỏi: Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung không? Nếu có thì vào thời điểm nào? Trong trường hợp có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định thì giải quyết như nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này (bán đấu giá hoặc bán không qua thủ tục đấu giá).

Căn cứ khoản 12 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, trước khi bán đấu giá tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung mà có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định thì Chấp hành viên thông báo cho các chủ sở hữu chung đó thỏa thuận người được quyền mua. Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản.

Tình huống 17. Chị Trần Thị Thủy huyện Trực Ninh có hỏi: Pháp luật quy định thời hạn nộp tiền mua tài sản đấu giá, thời hạn bàn giao tài sản đấu giá như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 12 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, thời hạn nộp tiền mua tài sản đấu giá và thời hạn bàn giao tài sản đấu giá được quy định như sau:

Người mua được tài sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày đấu giá thành và không được gia hạn thêm.

Trong thời hạn không quá 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng.

Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá. Tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Tình huống 18. Anh Hoàng Văn Nam thành phố Nam Định có hỏi: Pháp luật quy định trong thời gian chưa bàn giao được tài sản cho người mua thì cơ quan thi hành án dân sự phải làm thủ tục gì? Nếu không giao được tài sản cho người mua theo đúng thời hạn trong hợp đồng bán đấu giá tài sản thì người mua có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng không?

Trả lời:

Căn cứ khoản 4 Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, trong thời gian chưa giao được tài sản, cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng theo hình thức gửi tiền có kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản, phần lãi tiền gửi được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp không giao được tài sản thì phần lãi tiền gửi thuộc về người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác.

Trường hợp đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng.

Tình huống 19. Anh Trần Văn Tín huyện Giao Thủy có hỏi: Pháp luật quy định việc xử lý khoản tiền đặt trước trong trường hợp sau khi phiên đấu giá kết thúc mà người trúng đấu giá tài sản từ chối mua hoặc đã ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá nhưng chưa thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào và việc xử lý tiền thanh toán mua tài sản đấu giá trong trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không thực hiện đầy đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 12 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, trường hợp sau khi phiên đấu giá kết thúc mà người trúng đấu giá tài sản từ chối mua hoặc đã ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá nhưng chưa thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào thì sau khi trừ chi phí đấu giá tài sản, khoản tiền đặt trước thuộc về ngân sách nhà nước và được sử dụng để thanh toán lãi suất chậm thi hành án, tạm ứng chi phí bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính để thi hành án và các chi phí cần thiết khác.

Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá không thực hiện đầy đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hp đồng thì tiền thanh toán mua tài sản đấu giá được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá và quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản.

Tình huống 20. Anh Lê Văn Thành huyện Nam Trực có hỏi: Pháp luật quy định thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ như thế nào?

Trả lời:

Theo Điều 31 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ được quy định như sau:

- Tổ chức bán đấu giá thực hiện việc bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ có giá trị trên 10.000.000 đồng;

- Chấp hành viên thực hiện việc bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ có giá trị đến 10.000.000 đồng hoặc trong trường hợp tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức thi hành án chưa có tổ chức bán đấu giá, hoặc tuy có nhưng tổ chức đó từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá.

Tình huống 21. Chị Đặng Hoài Thương huyện Vụ Bản có hỏi: Pháp luật quy định trách nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng trong trường hợp giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng mà tài sản bán đấu giá thuộc diện phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, khi ký hợp đồng với tổ chức bán đấu giá tài sản, cơ quan thi hành án dân sự phải ghi trong hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản thông tin người mua được tài sản bán đấu giá phải chịu trách nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng trong trường hợp giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng mà tài sản bán đấu giá thuộc diện phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định. Thông tin này phải được đưa vào nội dung thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.

Tình huống 22. Anh Trịnh Đức Hùng thành phố Nam Định có hỏi: Khi nhận được yêu cầu của người mua được tài sản bán đấu giá hoặc của người phải thi hành án về việc hủy kết quả đấu giá, trong thời gian bao lâu Chấp hành viên phải tổ chức thỏa thuận về việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, Chấp hành viên tổ chức thỏa thuận về việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người mua được tài sản bán đấu giá hoặc của người phải thi hành án.

Thành phần tham gia thỏa thuận được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Tình huống 23. Chị Trần Thu Hà huyện Nghĩa Hưng có hỏi: Pháp luật quy định trong quá trình xử lý tài sản để thi hành án, người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, trong quá trình xử lý tài sản để thi hành án, người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì xử lý như sau:

- Trường hợp tài sản chưa được tổ chức bán đấu giá hoặc đã đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc đấu giá không thành thì Chấp hành viên căn cứ vào quyết định đình chỉ thi hành án để giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án.

- Trường hợp tài sản đã được bán đấu giá thành thì số tiền thu được từ việc bán đấu giá được trừ đi các khoản chi phí cưỡng chế, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản đó. Số tiền phải thi hành cho người được thi hành án chết thuộc về ngân sách nhà nước, số tiền còn lại (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống 24. Anh Đỗ Thanh Hải thành phố Nam Định hỏi: Giá khởi điểm để bán đấu giá được xác định như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ Điều 98 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014 và Điều 26 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, giá khởi điểm để bán đấu giá được xác định như sau:

- Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá.

- Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:

+  Đương sự không thỏa thuận được về giá và không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;

+ Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;

+ Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.

- Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:

+ Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên. Trong trường hợp này, Chấp hành viên có thể lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên; trường hợp vẫn không thể ký được hợp đồng thì Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực của tài sản kê biên trước khi xác định giá của tài sản kê biên. Việc tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan phải lập thành văn bản hoặc biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn đó. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Chấp hành viên mà cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không có ý kiến bằng văn bản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên.

+ Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ (là tài sản mà tại thời điểm xác định giá, tài sản giống hệt hoặc tương tự chưa qua sử dụng có giá mua bán trên thị trường không quá 10.000.000 đồng) mà đương sự không thỏa thuận được với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.

Tình huống 25. Chị Đoàn Thị Mỹ huyện Giao Thủy có hỏi: Pháp luật quy định việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp nào? Và giá khởi điểm để bán đấu giá trong trường hợp định giá lại là giá nào?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về định giá tài sản kê biên dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;

- Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.

Theo khoản 3 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, giá thẩm định lại được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá theo quy định.

Tình huống 26. Chị Phạm Thị Thà huyện Hải Hậu có hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về thỏa thuận tổ chức thẩm định giá?

Trả lời:

Theo Điều 25 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, việc thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá được quy định như sau:

- Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên hoặc tổ chức thẩm định giá trên địa bàn khác thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn.

- Việc thỏa thuận của đương sự về lựa chọn tổ chức thẩm định giá cũng được thực hiện đối với việc định giá lại tài sản kê biên.

Tình huống 27. Anh Nguyễn Hoài Nam thành phố Nam Định có hỏi: Pháp luật quy định biên bản kê biên tài sản phải có những nội dung chính gì?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, việc kê biên tài sản phải lập biên bản.

Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.

Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được ủy quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản.

Tình huống 28. Chị Trần Hải Thanh huyện Vụ Bản có hỏi: Tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý không?

Trả lời:

Theo Điều 90 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định pháp luật.

Theo khoản 3 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết. Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có. Nếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Tình huống 29. Anh Đặng Văn Lâm huyện Ý Yên có hỏi: Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 95 Luật Thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014, khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.

Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.

Tình huống 30. Chị Đặng Hồng Hoa huyện Mỹ Lộc có hỏi: Pháp luật quy định việc kê biên, xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng và của hộ gia đình được thực hiện như thế nào?

 Trả lời:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết.

Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.

Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.

Tin khác
1 2 3 4 
Cơ quan thiết lập Trang TTĐT: Sở Tư pháp tỉnh Nam Định. Giấy phép số 01/GP-STTTT cấp ngày 31/01/2019
Địa chỉ: 325 Đường Trường Chinh - TP. Nam Định. Điện thoại: (0228) 3849381
Bộ phận cấp phiếu Lý lịch tư pháp: 0228.3636606; Phòng Công chứng số 1: 0228.3528096
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản: 0228.3836335; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước: 0228.3526669 
Designed by VNPT Nam Định
  
Chung nhan Tin Nhiem Mang